SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Lượt xem:

Đọc bài viết

Giải pháp phát triển tình cảm kỹ năng xã hội thích nghi với môi trường giáo dục ở lứa tuổi nhà trẻ (25-36 tháng) Trường Mẫu giáo Bình Minh, xã Vĩnh Bình, tỉnh An Giang năm học 2024- 2025”

– Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến (trường hợp tác giả không đồng thời là chủ đầu tư tạo ra sáng kiến): Thị Kim Toàn, giáo viên Trường Mẫu giáo Bình Minh, xã Vĩnh Bình, tỉnh An Giang.

– Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục (Nuôi dạy trẻ mầm non)

– Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 20/9/2024 đến ngày 20/12/2025

– Mô tả bản chất của sáng kiến:

1.Tình trạng giải pháp đã biết:

Giáo dục lĩnh vực phát triển tình cảm kỹ năng xã hội, là một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục, phát triển tình cảm kỹ năng xã hội nhằm góp phần phát triển toàn diện cho trẻ mầm non. Giúp cho trẻ nhận biết về sự vật hiện tượng xung quanh giúp trẻ  hình thành rèn luyện các tình cảm kỹ năng xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với kết quả học tập. Nhằm truyền đạt cho trẻ nhiều kiến thức trò chuyện trao đổi với trẻ vì vậy tôi chọn biện pháp tiết học này.

* Thuận Lợi:

Được sự quan tâm giúp đỡ hỗ trợ từ Ban Giám Hiệu nhà trường luôn tạo điều kiện cho tấc cả giáo viên có những buổi tập huấn chuyên môn thao giảng chuyên đề để thực hiện vào trong giảng dạy nhằm đem lại kết quả tốt.Trường có đầy đủ điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng đồ chơi đáp ứng yêu cầu.

Cô giáo năng động, nhiệt tình luôn chủ động tích cực luôn đồng hành cùng với trẻ trong mọi hoạt động, cô luôn quan tâm, chăm sóc trẻ từng bữa ăn giấc ngủ đến việc học tập của trẻ. Cô thực hiện làm đồ dùng đồ chơi sáng tạo phục vụ cho các hoạt động của trẻ được linh hoạt sinh động hơn.

Đối với trẻ có môi trường học tập thoải mái vui vẻ yêu thích đến trường say mê khám phá.

Phụ huynh học sinh luôn quan tâm, tạo mọi điều kiện giúp các con có tâm thế tốt nhất khi đến lớp.

* Khó Khăn

– Do trẻ quen sống ở môi trường gia đình, chưa quen với môi trường ở lớp học nên trẻ chưa có ấn tượng về cô giáo cảm giác chưa được an toàn về tinh thần khi đến trường.

– Những ngày đầu đi học trẻ chưa quen với môi trường giáo dục nên việc tiếp xúc gần gũi với trẻ còn gặp nhiều khó khăn, trẻ không chịu hợp tác cùng cô.

– Trẻ chưa thích nghi được những nề nếp sinh hoạt trong các hoạt động, nên còn khóc nhiều không chịu vào lớp.

– Trẻ còn rụt rè, nhút nhát đôi lúc chưa tích cực tham gia vào các hoạt động cùng cô và bạn.

– Do trẻ còn quá nhỏ chưa biết thực hiện sưu tầm nguyên vật liệu khác nhau làm đồ dùng đồ chơi sáng tạo trong tiết học.

– Một số phụ huynh bận rộn, ít thời gian trò chuyện, chơi cùng con. Cách dạy trẻ ở nhà chưa thống nhất với ở trường (nuông chiều hoặc áp đặt). Chưa hiểu rõ phương pháp giáo dục kỹ năng tình cảm – xã hội phù hợp lứa tuổi.

2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:

2.1.Mục đích của giải pháp:

+ Tìm ra các giải pháp hữu hiệu để hình thành và rèn luyện kỹ năng thích nghi với môi trường giáo dục cho trẻ nhà trẻ tại đơn vị. Giúp trẻ phát triển lĩnh vực tình cảm và kỹ năng xã hội, phát huy tính tự lập, tự tin trong cuộc sống.

+ Giúp bản thân rèn luyện học tập, tìm kiếm và áp dụng các biện pháp giáo dục linh hoạt, sáng tạo và phù hợp với đặc điểm của trẻ.

+ Nâng cao ý thức cho phụ huynh về vai trò của việc giáo dục sớm các kỹ năng cơ bản cần thiết ảnh hưởng đến sự phát triển và tính tự lập của trẻ.

2.2.Nội dung giải pháp:

2.2.1 Tên các giải pháp thực hiện

Giải pháp 1: Tạo ấn tượng tốt giúp trẻ luôn được an toàn về tinh thần khi đến trường.

Giải pháp 2: Xây dựng môi trường giáo dục đẹp an toàn thân thiện và gần gũi với trẻ.

Giải pháp 3: Rèn cho trẻ quen những nề nếp sinh hoạt trong các hoạt động.

Giải pháp 4: Linh hoạt sáng tạo trong việc thay đổi cách thức tổ chức các hoạt động giúp trẻ tích cực tham gia vào các hoạt động.

Giải pháp 5: Tích cực sưu tầm nguyên vật liệu khác nhau làm đồ dùng đồ chơi sáng tạo.

Giải pháp 6: Tuyên truyền phối hợp với cha mẹ đồng hành cùng cô để giúp trẻ sớm thích nghi với trường lớp.

2.2.2.Áp dụng triển khai giải pháp:

Giải pháp 1: Tạo ấn tượng tốt giúp trẻ luôn được an toàn về tinh thần khi đến trường.

Để tạo được ấn tượng tốt giúp trẻ được an toàn về tin thần khi đến trường tôi thực hiện cho mình như là người mẹ thứa hai của trẻ, Bởi vì cử chỉ hành động của cô giáo cũng có thể ảnh hưởng đến tinh thần cho trẻ, cô thường xuyên tạo cho trẻ cảm xúc hài hoà niềm vui, mỗi sáng tôi dành cho trẻ một cái ôm thân thiết, những hành động nhẹ nhàng, câu nói nhỏ nhẹ nuông chiều khi trẻ ở bên cô sẽ được có cảm giác an toàn như ở bên cha mẹ của mình và lúc đó trẻ sẽ đỡ sợ hãy và  toả ra vui vẻ hạnh phúc khi ở bên cô. ( vd: Giờ đón trẻ tôi thể hiện cảm xúc như người mẹ thứ hai của trẻ để tạo cho trẻ niềm tin cô yêu thương mình.)

Còn nếu giáo viên có tâm trạng căng thẳng hay cáo rắc thì sẽ tạo cho trẻ không được có cảm xúc vui vẻ thoải mái an toàn, sẽ gây ra cho trẻ sợ hãy khóc nhoè đòi mẹ có khi không chịu hợp tác với cô. Bằng tình yêu thương đối với trẻ thì cô giáo cần nên kiên nhẫn bình tỉnh và có khả năng quản lý cảm xúc của trẻ tốt hơn.

Khi trẻ hoà nhập thích nghi được môi trường ở lớp học trẻ sẽ toả ra cảm xúc hạnh phúc và cô giáo cũng sẽ hạnh phúc và có thêm động lực trong công tác chăm sóc giáo dục ở lớp học của mình.

Giải pháp 2: Xây dựng môi trường giáo dục đẹp an toàn thân thiện và gần gũi với trẻ.

Như chúng ta đã biết hoạt động đối với trẻ nhà trẻ là hoạt động đối với đồ vật trẻ dễ bị thu hút bởi những đồ dùng đồ chơi mới lạ, màu sắc bắt mắt, bắt nguồn từ việc trang trí lớp trang trí ở các góc thật đẹp bắt mắt có màu sắc rực rỡ hài hoà. Ngoài thái độ cử chỉ hành vi của cô cần gợi niềm say mê trí tò mò khám phá cho trẻ tham gia vào hoạt động. Tôi áp dụng lấy trẻ làm trung tâm để trẻ được thoả mãn nhu cầu tìm tòi khám phá trải ngiệm trong lớp học của mình.

Trong lớp học tôi thường trang trí những hình ảnh bắt mắt, ngộ nghĩnh trang trí thu hút sự chú ý của trẻ đặc biệt là chuẩn bị đồ dùng đồ chơi luôn được thay đổi tạo sự mới mẽ hấp dẫn qua đó nhằm tạo cho trẻ say mê yêu thích tìm tòi khám phá (vd: trong giờ hoạt động tạo hình tôi cho trẻ trang trí cái áo, có nhiều nguyên vật liệu khác nhau, lá cây, bon bon, bìa caton, vải nỉ… nhằm thu hút sự khám phá tìm tòi của trẻ, đồng thời tạo cho trẻ thực hiện được sự sáng tạo vào trong sãn phẩm của mình)

Môi trường giáo dục an toàn thân thiện tôi thường tạo cho trẻ một môi trường xã hội, một môi trường tâm lý vui vẻ giữa cô với trẻ, trẻ với trẻ. Một môi trường thoải mái không có bạo lực kỳ thị, không có phân biệt, tôn trọng trẻ tôn trọng quyền lựa chọn hoạt động theo sở thích cá nhân của mình.

Giải pháp 3: Rèn cho trẻ quen những nề nếp sinh hoạt trong các hoạt động.

Trong những ngày đầu trẻ đi học giáo viên thường rất vất vả trong việc chăm sóc giáo dục trẻ, bởi trẻ đang ở môi trường gia đình được ông bà cha mẹ yêu thương nuông chiều, khi đến trường có cảm giác xa lạ và bỡ ngỡ, nên có những trẻ còn khóc có khi cả ngày, có những trẻ không chịu ăn không chịu ngủ.

Để rèn cho trẻ có một thói quen nề nếp tôi luôn dành tình cảm yêu thương, gần gũi với trẻ đồng thời luôn quan tâm từng cá nhân trẻ có những biện pháp chăm sóc phù hợp nhất, trẻ có thích nghi tốt và chưa thích nghi tốt, tôi luôn tạo đều kiên cho trẻ chơi cùng nhau, để nhằm giúp trẻ có thể hoà đồng hơn có thói quen tốt hơn. (Vd: Đến giờ ăn thì trẻ biết rữa tay trước khi ăn, gặp người lớn phải biết lễ pháp chào hỏi, giờ đên lớp chào cô, cất đồ dùng cá nhân theo nơi quy định, dép thì bỏ lên kệ, còn ba lô bỏ vào trong họp tủ…)

Đối với những trẻ khó thích nghi (vd: Trong giờ ăn, trẻ không chịu ăn rau, củ, tôi động viên khuyên khích cho trẻ) (vd: Khi ăn rau củ giúp chúng ta có nhiều vitamin, sáng mắt, da đẹp thông minh..) Từ những việc rèn luyện cho trẻ những nề nếp thói quen trong sinh hoạt hằng ngày đã giúp cho trẻ lớp tôi có ý thức hơn trong các nề nếp ở lớp, cũng như ở nhà.

Giải pháp 4: Linh hoạt sáng tạo trong việc thay đổi cách thức tổ chức các hoạt động giúp trẻ tích cực tham gia vào các hoạt động.

Để giúp trẻ tham gia vào các hoạt động một cách hứng thú, tích cực tôi thường xuyên thay đổi các hình thức tổ chức cho trẻ một cách linh hoạt ở nhóm lớp cũng như ở sân trường để nhằm cho trẻ trải nghiệm thực tế (vd: Hoạt động ngoài trời, tôi cho trẻ trải nghiệm một số hoạt động, trẻ biết cắt cỏ mang về, trẻ biết thực hiện hoạt động cho bò ăn cỏ, hoạt động vắt sữa bò… bằng nguyên vật liệu có tại trường)

Ngoài ra tôi còn thường tổ chức cho trẻ nhiều trò chơi dân gian (vd: Chi chi chành chành, dung dăng dung dẽ, bịt mắt bắp dê, kéo cưa lùa sẽ…) để tạo hứng thú cho trẻ khi tham gia vào hoạt động.

Còn khi cho trẻ tham gia hoạt động trải nghiệm tôi thường cho trẻ quan sát bằng vật thât (vd: Khi hoạt động nhận biết một số loại hoa, tôi chuẩn bị hoa thật, nhằm giúp cho trẻ có thể cảm nhận được mùi hương thơm từng các loại hoa, màu sắc, cảm giác…) từ thực hiện những biện pháp đó giúp cho hoạt động đổi mới trẻ rất thích, tích cực tham gia vào các hoạt động vui vẻ và hứng thú.

Giải pháp 5: Tích cực sưu tầm nguyên vật liệu khác nhau làm đồ dùng đồ chơi sáng tạo.

Với những đồ dùng đồ chơi, mỗi chủ đề mỗi bài học tôi thường lên kế hoạch thiết kế đồ dùng đồ chơi phục vụ cho từng chủ đề (vd: Chủ đề gia đình tôi làm các đồ dùng trong gia đình bằng nguyên vật liệu khác nhau, còn chủ đề nghề nghiệp thì làm một số đồ dùng của các nghề gần gũi với trẻ) (vd: Dụng cụ nghề bác nông dân.  “Làm cây cuốc” Dụng cụ cô thơ may, “Cây kéo” dụng cụ bác sĩ, “Ống tiêm” dụng cụ giáo viên, “Cây viết” dụng cụ anh thợ hồ “Cây bay”…) tôi áp dụng bằng nhiều nguyên vật liêu màu màu sắc sặc sở nhăm lôi cuốn thu hút trẻ vào hoạt động.

Khi thực hiện các nguyên vật liệu đó tôi thường sử dụng những nguyên vật liệu có sãn ở địa phương cũng như ở tường, (vd: Như thùng giấy bìa caton, vài nỉ, vải dụng, shop bitis, chai nhựa, vỏ họp sũa chua, vỏ sữa susu…

 những nguyên vật liệu đó  được đảm bảo an toàn, không độc hại, không sắc nhọn , màu sắc bắt mắt và trước khi sử dụng tôi đã vệ sinh sạch sẽ trước khi sử dụng, tôi cũng thường xuyên tuyên truyền đến các bật phụ huynh tham gia ủng hộ các nguyên vật liệu để tạo cho sản phẩm được phong phú xinh động hơn.

Giải pháp 6: Tuyên truyền phối hợp với cha mẹ đồng hành cùng cô để giúp trẻ sớm thích nghi với trường lớp.

Đều quan tâm hơn là, trong các hoạt động của trẻ một ngày ở trường cũng như tương đương ở nhà tôi thường tuyên truyền với phụ huynh việc sinh hoạt một ngày ở trường của trẻ, phụ huynh có thể rèn cho con một số nề nếp ăn ngủ đúng giờ, cất dọn đồ dùng đúng nơi quy định khi ở nhà. Xây dựng cho con thực đơn bằng những món ăn phù hợp nhiều chất dinh dưỡng, ăn vừa đủ vừa phải, tránh tình trạng béo phì hoặc suy dinh dưỡng, khi ăn phụ huynh có thể hướng dẫn con có thói quen khi ăn ngồi vào bàn ngay ngắn giúp trẻ có kỹ năng tự lập, từ việc tuyên truyền và phối hợp với các bậc phụ huynh trong việc chuẩn bị tâm lý sẳn sàn cho trẻ đến trường đến lớp phụ huynh đã yên tâm hơn và hiểu rõ hơn vai trò giáo dục mầm non tin tưởng gởi con đến trường.

Trong những ngày đầu đưa con đến trường, tôi đã phối hợp cùng với nhà trường tham gia cuộc họp phụ huynh đầu năm, tuyên truyền với phụ huynh về hình ảnh và những hoạt động của trường, tạo niềm tin để phụ huynh yên tâm tin tưởng gởi con đến trường, ngoài ra tôi còn có thể tuyên truyền đến phụ huynh thông qua zalo nhóm lớp hây những video về các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ để gởi tới phụ huynh, để phụ huynh có thể hướng dẫn chơi cùng con tại nhà.

Tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh trong các buổi họp phụ huynh của lớp về vai trò và tầm quan trọng của giáo dục mầm non đến sự phát triển hình thành nhân cách của trẻ để phụ huynh am hiểu không bỏ lỡ cho trẻ những cơ hội đưa trẻ đến trường theo đúng độ tuổi.

– Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không có

– Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Giải pháp này tôi đã áp dụng cho trẻ nhà trẻ, trường mẫu giáo bình minh, đã được kết quả tốt. Với đề tài mang tính thực hiện và phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, giải pháp này có thể nhân rộng ở phạm vi các đơn vị bạn trong toàn xã.

– Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả:

Cần đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên đứng lớp, trẻ phát triển đồng đều đúng độ tuổi và sự phối hợp thống nhất của phụ huynh trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ.